/NewFolder/IMG_0535.JPG?w=900)
1. Tích hợp và Dạy học tích hợp là gì?
2. Tích hợp là một hoạt động mà ở đó cần phải kết hợp, liên hệ,
huy động các yếu tố, có liên quan với nhau của nhiều lĩnh vực để giải quyết một
vấn đề, qua đó đạt được nhiều mục tiêu khác nhau.
3. Dạy học tích hợp là định hướng dạy học trong đó GV tổ chức,
hướng dẫn để HS biết huy động tổng hợp KT, KN,… thuộc nhiều lĩnh vực (môn
học/HĐGD) khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ HT; thông qua đó hình thành
những KT, KN mới; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là NL giải
quyết vấn đề trong HT và thực tiễn cuộc sống.
2.
Sự cần thiết phải phát triển năng lực dạy học theo định hướng tích hợp
¢ Tích hợp (TH) góp
phần chuyển nền giáo dục từ chú trọng truyền thụ kiến thụ sang nền giáo
dục chú trọng hình thành, phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học
¢ TH không chỉ giúp
HS trang bị những hiểu biết về tri thức của bộ môn Toán mà còn mang đến cho HS
những trải nghiệm thực tế thực sự có ý nghĩa, giúp HS hiểu sâu hơn vấn đề
3.
Các thành phần cơ bản làm nền tảng cho quá trình dạy học tích hợp

MỘT: Nội dung (kiến thức)
Ví dụ: Hình vuông; hình chữ nhật;
Năm, tháng, ngày, giờ;….Nói chung đó là những nội dung môn học.
HAI: Kĩ năng
Kĩ năng chỉ biểu hiện thông qua một
nội dung. Ví dụ HS có thể “đọc số” (kĩ năng) từ trong một quyển sách toán (nội
dung 1); một dãy số liệu (nội dung 2) hay từ trong các bài toán giải có lời văn
(nội dung 3).
Có những
loại kĩ năng cơ bản sau:
¢ Kĩ năng nhắc lại và kĩ năng lặp lại.
¢ Kĩ
năng nhận thức
¢ Kĩ
năng hoạt động chân tay
¢ Kĩ
năng xử sự
¢ Kĩ
năng tự phát triển.
Một
kĩ năng có thể là hỗn hợp của nhiều loại kĩ năng.
BA: Mục tiêu
Mục
tiêu chính là sự tác động của một kĩ năng lên một nội dung.
Mục tiêu = (kĩ năng) x (nội dung)
Ví
dụ: + Áp dụng (kĩ năng) công thức tính diện tích xung quanh một hình hộp chữ nhật
để giải quyết các bài toán giải.
+ Kẻ (kĩ năng) hai đường thẳng song song
+ Năng lực: Là một tập hợp trật tự các kĩ năng tác động
lên các nội dung trong một tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do
tình huống này đặt ra.
Năng
lực = (những kĩ năng x những nội dung)
x những tình huống
Năng
lực = những mục tiêu x những tình huống

Năng lực tư duy và suy luận
toán học
Điều này liên quan đến việc đặt ra các câu hỏi đặc
trưng của Toán (có hay không? Nếu như vậy có bao nhiêu? Làm thế nào chúng ta
tìm? à
Biết được câu trả lời mà toán học có thể đáp ứng những câu hỏi như vậy.
Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
Điều này liên
quan đến việc đặt, định dạng và xác định những loại khác nhau của các vấn đề
toán; thu thập các thông tin, mối liên hệ giữa các yếu tố đã có để tìm ra
phương án giải quyết phù hợp cho các dạng câu hỏi như vậy; biết đề ra một số giải
pháp khác để giải quyết vấn đề
Năng lực mô hình hóa toán học
Mô hình hóa Toán học: Để vận dụng kiến thức Toán học vào việc giải quyết những tình huống của
thực tế, người ta phải toán học hóa tình huống đó, tức là xây dựng một mô hình
toán học thích hợp cho phép tìm câu trả lời cho tình huống. Qúa trình này được
gọi là mô hình hóa toán học
Mô hình hóa Toán học cho phép học sinh kết
nối Toán học nhà trường với thế giới thực, chỉ ra khả năng áp dụng các ý tưởng
toán, đồng thời cung cấp một bức tranh rộng hơn, phong phú hơn về toán học,
giúp cho việc học Toán trở nên ý nghĩa hơn.

Năng lực giao tiếp toán học
Điều này liên quan đến việc bộc lộ mình, theo nhiều
cách, về những vấn đề với một nội dung Toán, theo dạng nói cũng như dạng viết,
hiểu được những mệnh đề được nói hay viết bởi những người khác về những vấn đề
như vậy
Năng lực biểu diễn, trình bày toán học
Điều này liên quan đến việc giải mã, mã hóa, chuyển thể,
giải thích và phân biệt giữa các dạng khác nhau của các biểu diễn của những đối
tượng và bối cảnh toán học, những mối quan hệ bên trong giữa các biểu diễn; chọn
và chuyển dịch giữa các dạng khácn nhau của biểu diễn tùy theo bối cảnh và mục
đích
Năng lực sử dụng công cụ,
phương tiện Toán học
Điều này liên quan đến việc biết về
và có khả năng sử dụng nhiều loại phương tiện hỗ trợ khác nhau ( bao gồm công
cụ công nghệ thông tin) có thể giúp cho hoạt động toán và biết các hạn chế của
những loại công cụ đó
+ Tình huống
Tình huống ở đây
không phải là những loại tình huống y như trong sách giáo khoa đã học mà là
loại tình huống có ý nghĩa, có ứng dụng trong cuộc sống thực tế. Nếu GV không
thay đổi tình huống, có nghĩa GV chỉ kiểm tra kĩ năng lặp lại của HS mà chưa
kiểm tra xem ở HS đã hình thành năng lực giải quyết tình huống chưa.
4. Thực hành soạn bài tập
theo hướng phát triển năng lực
TRÌNH BÀY:
NỘI DUNG (KIẾNTHỨC)…………………………………….
(lực chọn các nội dung có khả năng tích hợp)
KĨ NĂNG:………………………
NĂNG LỰC:……………………….(giúp
HS rèn năng lực gì?)
TÌNH HUỐNG (ghi cụ
thể băng một bài toán có tình huống như trong thư có tình huống như trong thực
tế, bài toán mức 4)
LIÊN HỆ THỰC TẾ:
(biết cách giải quyết vấn đề gì trong cuộc sống)
MINH HỌA
NỘI DUNG
(KIẾNTHỨC): Nhận biết
số trung bình cộng của nhiều số
KĨ NĂNG: Biết
cách tính số trung bình cộng của nhiều số.
NĂNG LỰC:
Năng lực
tư duy, suy luận toán học,phát hiện và giải quyết vấn đề, mô hình hóa toán học,
năng lực trình bày và giao tiếp toán học,…
TÌNH HUỐNG:
Nhân ngày Quốc tế
thiếu nhi 1 tháng 6, cửa hàng đồ chơi giảm
giá tất cả đồ chơi đến hết tháng 6. Thảo rất thích con búp bê có giá sau khi giảm
là 285 000 đồng. Hỏi nếu muốn mua con búp bê đó trong tháng 6, Thảo phải để
dành từ đầu tháng đến cuối tháng, trung bình mỗi ngày bao nhiêu tiền mới đủ
mua?
LIÊN HỆ THỰC TẾ:
-
Biết cách
tiết kiệm, tiêu tiền hợp lý ( tự mình dành dụm tiền để mua được món quà mình
yêu thích)
-
Sử dụng
tiền, tính toán đi mua hàng hóa
-
Lựa chọn
thời điểm mua hàng hóa hợp lý ( mùa “sale”,giảm giá)